Papers

Trí tuệ Nhân tạo và tương lai xã hội

Những chiếc xe tải hoàn toàn không người lái đã vận hành trơn tru tại các mỏ khoáng sản ở Tây Úc vài năm nay. Còn tại Mỹ, Uber đã thử nghiệm xe tải OTTO giao hàng xuyên tiểu bang mà cabin không có người nào. Chức năng lái tự động (autopilot) đã được triển khai đại trà trên nhiều mẫu xe hơi, từ tất cả các nhà sản xuất xe lớn.

Làm việc không mệt mỏi, tỉ lệ tai nạn cực thấp, cùng với nhiều ưu điểm khác, trong 20 năm tới, dự báo sẽ có 50% xe sản xuất mới là hoàn toàn không cần người lái. Các chuyên gia Trí tuệ Nhân tạo tin rằng xe robot sẽ càng lúc càng tối ưu và phổ biến đến một lúc mà con người sẽ bị cấm điều khiển xe. Đơn giản bởi vì 90% các vụ tai nạn hiện nay là do lỗi tài xế.

Không dừng ở các việc cần ít chất xám, IBM, cùng với hàng trăm công ty khác trên thế giới, đang nghiên cứu ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) để phân tích và chuẩn đoán bệnh. Với khả năng đọc và đối chiếu hàng triệu hồ sơ, xác suất xác định đúng bệnh của máy tính là vô cùng cao. Bệnh nhân có thể dùng các app trên điện thoại, chụp hình và điền vào các thông tin, gởi lên một hệ thống AI và gần như tức thì, kết quả chuẩn bệnh và cách điều trị sẽ được trả về.

Các phần mềm về luật như Ailira khi được thử nghiệm, có thể giúp một người không có căn bản gì về luật, vượt qua kỳ thi về luật thuế của trường Đại học Adelaide. Với sự trợ giúp của AI, người dân trong tương lai có thể tự mình giải đáp và xử lý các rắc rối về pháp lý, khi mọi điều luật liên quan và giải pháp đã được máy tính nghiên cứu và đưa ra hướng xử lý tối ưu.

Đây là 3 ví dụ tiêu biểu về việc Trí tuệ Nhân tạo đang và sẽ chuyển hóa sâu sắc xã hội. Những điều kiện cần và đủ đã sẵn sàng để Trí tuệ Nhân tạo được áp dụng rộng rãi và phát triển với tốc độ chóng mặt. Đó là hạ tầng mạng internet đã phát triển đầy đủ đến mọi ngóc ngách đời sống. Mức độ số hóa đã chín muồi để tìm thấy hầu như tất cả mọi thứ lên mạng. Thứ 2 là sự lên ngôi của các công ty công nghệ. Google, Microsoft hay Apple là những công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới. Càng lớn mạnh, các công ty này càng đổ tiền đầu tư vào lĩnh vực AI, giúp nó càng lúc càng thông minh, ưu việt. Ngoài ra, với đặc tính tự học, machine learning, AI có thể tích lũy dần và tự cải thiện khả năng của mình đến mức vô tận, điều mà 1 con người, với tuổi thọ giới hạn của mình, không thể bì kịp.

Trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, việc tự động hóa đã khiến nhiều việc tay chân bị thay thế bởi máy móc (và chuyển sang các nước đang phát triển). Nay kết hợp với các tiến bộ mới như trí tuệ nhân tạo, tổng quan được gọi là cách mạng công nghệ 4.0, thì có thể thấy xu thế rõ ràng rằng dù là việc chân tay hay trí óc, rất nhiều nghề nghiệp sẽ bị thay thế dần bởi công nghệ mới. Các chuyên gia nhận định 60% các bạn trẻ đang học những nghề mà trong 20 năm tới sẽ không còn tồn tại. Viễn cảnh thất nghiệp hàng loạt là không thể tránh khỏi.

Để trả lời cho vấn đề hóc búa này, nhiều nhà công nghệ tiên phong như Elon Musk và Mark Zuckerberg – ông chủ của Facebook đều đồng tình với giải pháp đó là Lương Căn Bản Đại Chúng (Universal Basic Income). Mọi người dân đều được hưởng một mức lương căn bản đủ sống. Canada và Phần Lan là 2 nước đã bắt đầu cho thử nghiệm chính sách này. Từ tháng 1 năm nay 2017, 2000 người dân Phần Lan thất nghiệp đã được chọn ngẫu nhiên để lãnh 560 Euro một tháng. Ở một khía cạnh nào đó, các nước phát triển thực ra đã có các hình thức an sinh xã hội tương tự từ lâu. Các loại trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp ốm đau, y tế, trẻ em, người già từ ngân sách nhà nước đã là một điều rất bình thường.

Theo hướng đó, các chuyên gia ở các nước phát triển nhìn AI như là một cơ hội chứ không phải là mối đe dọa. Người dân hay học sinh được hỗ trợ tối đa để nắm bắt công nghệ mới, người lao động được tái đào tạo để làm những công việc mới. Chính sách nhập cư cũng thu hút nhân tài các nước khác. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là “đón sóng, làm chủ công nghệ”. Còn những thành phần khác, nếu không theo kịp cũng có thu nhập căn bản để theo đuổi những đam mê cá nhân hay làm thiện nguyện.

Nhìn lại các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây ở châu Âu, hệ lụy tương tự cũng xảy ra như tỉ lệ thất nghiệp, tội phạm gia tăng, nhiều máy móc bị đập phá để phản đối. Một giải pháp lúc đó dù cơ học nhưng không tồi là di dân đến các châu lục mới như châu Úc, châu Mỹ hay châu Phi. Tội phạm hay dân nghèo da trắng là những người đi tiên phong viết nên lịch sử các quốc gia như Úc và đa số nước ở Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ.

Lịch sử có thể lập lại ở đây, vì với viễn cảnh công ty SpaceX của Elon Musk đang xây dựng các con tàu vũ trụ để đưa người định cư trên sao Hỏa, di cư liên hành tinh cũng không còn là một ý tưởng điên rồ. Theo tầm nhìn của Elon, vì hiện tại không có người ở sao Hỏa, mà muốn xây dựng một thuộc địa mới thì có rất nhiều việc phải làm, do đó ai di dân đến đây sẽ có rất nhiều cơ hội, không bao giờ lo thất nghiệp.

Xoay lại Trái đất, cuộc cách mạng AI có thể dẫn đến việc chia các nước ra thành 2 nhóm giàu nghèo rõ rệt hơn. Nhóm các nước “chiếu trên” làm chủ công nghệ, có tiền bạc dư dả để bao cấp mọi công dân (như các nước Ả rập đang làm; nhắc đến các mô hình này vì Dữ liệu/thông tin trong thời đại kỹ thuật số được ví như Dầu mỏ, ai biết khai thác nó sẽ trở nên giàu có). Nhóm các nước khác không nắm bắt được cơ hội sẽ tụt hậu và mắc kẹt với một nền kinh tế kèo kiệt, người giỏi sẽ bỏ nước ra đi, dân nghèo phải tự lo kiếm sống qua ngày.

Trong hoàn cảnh Việt nam, đây chính là cơ hội và thách thức mà đất nước này phải nắm bắt và đuổi kịp.

Cơ hội là bởi Trí tuệ Nhân tạo, dựa trên bản chất là phần mềm và cơ sở dữ liệu, có thể được nghiên cứu và phát triển ở bất cứ đâu. Với tố chất của mình, với sự tham gia của người Việt ở nhiều dự án nghiên cứu AI hàng đầu thế giới, thời cơ đang chờ đợi để Việt nam chuyển mình mạnh mẽ, đuổi kịp các nước chiếu trên để có một nền kinh tế sung túc với các chế độ an sinh hào phóng đủ để lo cho các công dân kém may mắn.

Hoặc không, rơi vào nhóm tụt hậu, đất nước sẽ mắc kẹt trong nghèo nàn và thoái hóa. Mà hậu quả cuối cùng là bị nuốt chửng, hoặc phải tự nguyện sát nhập để được bao cấp bởi các quốc gia giàu có khác.

Nguyễn Sinh Chương

http://ictnews.vn/cntt/tri-tue-nhan-tao-se-tao-tuong-lai-u-am-hay-tuoi-dep-cho-xa-hoi-157756.ict

 

Categories: Papers | Leave a comment

Apple thật sự đã phát minh ra iPhone như thế nào?


Đây là câu chuyện làm thế nào Apple đã “tái phát minh” ra điện thoại di động. Những nét chính đã được kể khá nhiều trước đây, nhất là trong cuốn tiểu sử về Steve Jobs của Water Isaacson. Nhưng trong vụ kiện với Samsung vừa kết thúc tháng trước với kết cục thắng lợi nghiên về Apple đã tiết lộ thêm nhiều thông tin về quá trình phát minh này, những thông tin mà Apple phải miễn cưỡng công bố vì yêu cầu của tòa án. Theo đó, công chúng có thể thấy được hình ảnh của nhiều mẫu thiết kế sơ khởi về iPhone và iPad, cũng như nhiều email nội bộ giải thích những lãnh đạo và nhà thiết kế của Apple giải quyết các khó khăn thách thức khi thiết kế iPhone. Đồng thời những lời khai của các lãnh đạo Apple giải thích tại sao iPhone là một canh bạc cũng được công khai.  Continue reading

Categories: Papers

Viễn cảnh của ngành viễn thông và Viettel, P.3

 Phần 3. Tầm nhìn cho tương lai và bước chuẩn bị của Viettel

 1. Viễn cảnh của ngành viễn thông

a. Sự thay đổi chóng mặt của ngành viễn thông

Trên thế giới hiện nay có khoảng 700 mạng di động, đa số đều là các công ty lớn với hàng ngàn nhân viên. Với nhiều công ty, khi đã có mạng lưới hạ tầng và duy trì được một lượng khách hàng ổn định với thiết bị đã khấu hao, thì có thể rung đùi ngồi hưởng thụ vì doanh thu vẫn vào đều đều trong khi chi phí hoạt động là không đáng kể. Đối thủ cạnh tranh cũng khó xuất hiện vì không dễ đầu tư một mạng mới với hạ tầng tương tự. Điều này có thể dẫn đến tâm lý chủ quan và trì trệ cho không ít các nhà quản lý mạng viễn thông (đơn cử như tâm lý trì hoãn nâng cấp công nghệ lên thế hệ thứ 3, cho rằng đó là cái bẫy 3G).

Tuy nhiên, thực tế ngành viễn thông di động là một ngành có độ thay đổi cực kỳ lớn. Mạng điện thoại di động đầu tiên trên thế giới ra đời vào đầu những năm 1980, chỉ sau 30 năm phát triển đã có hơn 5 tỉ thuê bao toàn cầu. Công nghệ thì thay đổi liên tục và liên tiếp có nhiều dịch vụ mới xuất hiện. Do vậy nếu không có một tầm nhìn tốt để thấy những gì sẽ diễn ra trong tương lai và sớm có biện pháp đối phó thì nhiều mạng di động sẽ bị bị động và nuốt chửng. Continue reading

Categories: Papers

Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông P. 2

Phần 2. Những sách lược đã đem lại thành công cho Viettel?

1. Đầu tư mạnh mẽ mạng lưới ngay từ ban đầu

Trong giai đoạn đi tầm sư học đạo ở các mạng nước ngoài năm 2004, ông Phó Tổng Viettel Nguyễn Mạnh Hùng đã học được một bài học lớn từ một vị giám đốc kinh doanh người Úc. Ông này chia sẻ trước khủng khoảng kinh tế năm 1997, mạng của công ty ông lớn nhất Indonesia, nhưng trong khủng khoảng không có tiền phát triển tiếp, mạng này đã bị một mạng khác do nhà nước đầu tư qua mặt. Đến năm 2003, qua khủng khoảng, công ty này đổ rất nhiều tiền, thậm chí gấp đôi công ty kia để giành lại vị trí số 1 nhưng bất lực. Bài học ở đây mà ông chia sẻ là “khi thị trường bão hòa rồi thì nhận thức người tiêu dùng không thay đổi được. Nếu tạo nhận thức ngay từ đầu là số 1 rồi thì mãi mãi là số 1.”

Nhờ bài học này cũng như nhận thức rất khác người của ông Hùng cho rằng, viễn thông là hàng hóa thông thường chứ không phải dịch vụ sang trọng. Sự phát triển của một đất nước cũng phụ thuộc vào viễn thông, chứ không phải viễn thông chỉ có thể bùng nổ khi GDP (thu nhập bình quân đầu người) đạt đến một mức độ nhất định. Kỹ thuật cao, nếu bán được cho càng nhiều người thì giá càng rẻ, càng nhiều người dùng thì doanh thu càng cao, kích thích ngược lại GDP. Chính nhờ nhận thức tạo sự khác biệt này mà Viettel đã ngay từ đầu thực hiện phủ sóng rộng khắp cả nước mà đánh đầu tiên là vào thị trường nông thôn. Continue reading

Categories: Papers | 1 Comment

Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông, P.1

Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông

Theo dõi thời sự thời gian qua, tin tức đầu tư ra nhiều nước của Tập đoàn Viễn thông Viettel đã tạo ra rất nhiều ấn tượng mạnh mẽ đối với người dân Việt nam và cả bạn bè các nước. Bên cạnh việc trở thành công ty lớn thứ 7 Việt nam trong năm 2010 [1] chỉ sau 10 năm[2] ra dịch vụ đã là một kỳ tích, thì việc trở thành một tập đoàn đa quốc gia, đầu tư mạng viễn thông tại nhiều nước trên thế giới là một bất ngờ thú vị mà bất cứ ai cũng phải ngạc nhiên và ấn tượng.

Điều gì đã tạo nên những thành công và triển vọng này? Những con người và câu chuyện đằng sau thành quả này là gì? Bước ngoặc nào đã dẫn đến sự phát triển thần tốc của Viettel? Đó là những câu hỏi mà không ít người bên ngoài thắc mắc về hiện tượng Viettel. Thông qua quá trình quan sát nhiều năm của một người trong ngành, bài viết sẽ phần nào giúp giải đáp những câu hỏi trên.

Phần 1. Hiện tượng và khởi nguồn của Viettel

1. Hiện tượng Viettel

Theo thống kê mới nhất của tổ chức Wireless Intelligence [3], đến tháng 4 năm nay, tại Việt nam, Viettel đã đạt có hơn 54 triệu thuê bao toàn quốc, chiếm thị phần 38%, bỏ xa các đối thủ còn lại (xem bảng 1). Tổng số trạm thu phát sóng BTS của tập đoàn này là 42.200, chiếm 45% tổng số trạm của tất cả 7 mạng Việt nam [4]. Đây là một bước chuyển thật ngoạn mục nếu tính thời gian ra mạng của Viettel chỉ có 8 năm, từ 2004, sau các đối thủ chính từ VNPT cả chục năm. Continue reading

Categories: Papers

Create a free website or blog at WordPress.com.