Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông P. 2

Phần 2. Những sách lược đã đem lại thành công cho Viettel?

1. Đầu tư mạnh mẽ mạng lưới ngay từ ban đầu

Trong giai đoạn đi tầm sư học đạo ở các mạng nước ngoài năm 2004, ông Phó Tổng Viettel Nguyễn Mạnh Hùng đã học được một bài học lớn từ một vị giám đốc kinh doanh người Úc. Ông này chia sẻ trước khủng khoảng kinh tế năm 1997, mạng của công ty ông lớn nhất Indonesia, nhưng trong khủng khoảng không có tiền phát triển tiếp, mạng này đã bị một mạng khác do nhà nước đầu tư qua mặt. Đến năm 2003, qua khủng khoảng, công ty này đổ rất nhiều tiền, thậm chí gấp đôi công ty kia để giành lại vị trí số 1 nhưng bất lực. Bài học ở đây mà ông chia sẻ là “khi thị trường bão hòa rồi thì nhận thức người tiêu dùng không thay đổi được. Nếu tạo nhận thức ngay từ đầu là số 1 rồi thì mãi mãi là số 1.”

Nhờ bài học này cũng như nhận thức rất khác người của ông Hùng cho rằng, viễn thông là hàng hóa thông thường chứ không phải dịch vụ sang trọng. Sự phát triển của một đất nước cũng phụ thuộc vào viễn thông, chứ không phải viễn thông chỉ có thể bùng nổ khi GDP (thu nhập bình quân đầu người) đạt đến một mức độ nhất định. Kỹ thuật cao, nếu bán được cho càng nhiều người thì giá càng rẻ, càng nhiều người dùng thì doanh thu càng cao, kích thích ngược lại GDP. Chính nhờ nhận thức tạo sự khác biệt này mà Viettel đã ngay từ đầu thực hiện phủ sóng rộng khắp cả nước mà đánh đầu tiên là vào thị trường nông thôn.

Kết quả thế nào thì ai cũng đã rõ, tại Việt nam, tuy là một nước có thu nhập đầu người đứng thứ 120 trên thế giới nhưng về mật độ thuê bao di động trên 1 đầu người thì hiện nay đứng thứ 8 thế giới, một con số đáng kinh ngạc [11]. Nhìn ra thị trường thế giới, đến đầu năm 2011, đã có gần 5.3 tỉ thuê bao di động trên tổng dân số thế giới 6.8 tỉ người [12]. Nhìn vào những con số thuần túy trên, có thể nói lý tính rằng, trừ nhóm người già và trẻ em không dùng điện thoại di động chiếm khoảng 1 tỉ người, thì điện thoại di động đã gần đến được với tất cả mỗi người người dân trên trái đất.

Khi Viettel mở rộng đầu tư ra thị trường nước ngoài, quan điểm này cũng thực sự rất khác biệt khi so sánh với các nhà đầu tư ở đa số các nước khác. Chiến lược chung của họ vẫn là đầu tư những nơi nào có lợi trước để có lãi ngay. Ban đầu phủ sóng nơi đông dân cư để thu được nhiều khách hàng và lợi nhuận, dần mới lấy vốn đầu tư ra chung quanh, cũng để cho kinh tế người dân bắt đầu khá lên. Phần đông các công ty cũng rất ngại đầu tư hạ tầng như đường trục cáp quang mà trong thời kỳ đầu thường đi thuê cho đỡ tốn kém. Phương án này rõ ràng sẽ tốt hơn, an toàn hơn vì số vốn đầu tư ban đầu thấp hơn và hiệu quả đầu tư của dòng tiền sẽ cao hơn.

Nhưng Viettel đã làm theo cách ngược lại, theo chiến lược mà công ty đã thành công tại Việt nam với quan điểm kinh doanh viễn thông là kinh doanh hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật phải đi trước rồi mới bắt đầu kinh doanh. Kết quả tại các thị trường ngoại quốc của Viettel cũng rất khả quan, dù đi sau đã vượt qua rất nhiều mạng có vốn đầu tư của các nước tư bản khác, trở thành nhà khai thác hàng đầu tại các nước này. Đến nay lợi nhuận tại các thị trường dù nhỏ như Campuchia cũng được hơn 60 triệu USD, Lào là 80 triệu USD [13].

2. Thiết kế mạng

Một trong những công việc khá tốn kém và mất thời gian trong việc xây dựng mạng di động là thiết kế và tối ưu mạng, vì đây là công việc cần có kinh nghiệm và kiến thức sâu sắc về kỹ thuật vô tuyến. Điều này dẫn đến tâm lý là cứ đẩy cho chuyên gia nước ngoài làm cho tốt, nhất là với những lãnh đạo nhà mạng nào không rành về kỹ thuật. Và dĩ nhiên đối tác nước ngoài sẽ tính giá công việc này rất mắc. Chẳn hạn, bảng thiết kế ban đầu chỉ trên 100 trạm của công ty S-Fone đã bị “chém” vài triệu đô la, còn Vietel thì phải trả theo giá 7000$ 1 trạm, tính ra vài ngàn trạm sẽ tốn cả trăm triệu đô.

Với bài toán này, ông Hùng đã tìm được một lời giải vô cùng sáng tạo cũng tại Indonesia trong giai đoạn học hỏi trên. Đó là một vị giám đốc kỹ thuật người Mỹ của một công ty viễn thông Indonesia, ông này chia sẻ, thiết kế của các công ty tư vấn thật ra cũng giống nhau thôi, chỉ khác nhau ở cái tọa độ. Vì vậy sơ đồ mạng của công ty ông cứ vẽ theo mắc lưới hình thoi, rồi đặt trạm theo những ô lưới đó. Chổ nào đông dân thì chia nhỏ ô ra, cắm thêm trạm. Ông Hùng thế là “bừng sáng”, đem áp dụng cho Viettel và thành bí kíp quan trọng để Viettel có thể triển khai trạm nhanh đến như vậy [14].

Thật sự đây là một phương án cực kỳ sáng tạo và đầy kinh nghiệm mà Viettel đã may mắn học được ngay từ thời kỳ đầu. Bởi vì nếu như cách làm thông thường, cắm trạm theo địa hình và mật độ dân cư, sơ đồ vị trí các trạm sẽ rất lộn xộn. Và do đó, mỗi khi thêm trạm mới để đáp ứng nhu cầu thuê bao gia tăng, phải có khảo sát nghiên cứu tình thế cụ thể từng nơi, tính toán rất chi ly tìm ra giải pháp tối ưu để đảm bảo vùng phủ sóng và tránh nhiễu giữa các trạm với nhau. Thuê bao gia tăng thì phải liên tục thêm trạm và kết quả là mạng lưới càng lúc càng lộn xộn, không theo hàng lối nào hết. Hầu hết các mạng khác ở Việt nam đều bị tình trạng này, việc thiết kế rất chậm chạp và khó khăn cũng như dễ bị nhiễu sóng. Ông Hùng đúc kết: “có nhiều việc mình tưởng nó rất phức tạp, nhưng hóa ra nó không phức tạp như thế”.

Cellplanning2  Cellplanning

Thiết kế theo địa hình . . . . . . . . . . .. .Thiết kế theo mắc lưới

Nhờ nắm được quy tắc vàng về thiết kế mạng này cộng với việc đầu tư đào tạo mạnh mẽ cho nhân viên mà giờ đây Viettel có thể tự mình đứng ra thiết kế, tối ưu mạng lưới cho mình và thậm chí đi thiết kế thuê cho các mạng nước ngoài khác như ở Malaysia, đem ngoại tệ về cho đất nước. Một bước chuyển thật ngoạn mục.

3. Lấy sở đoản làm sở trường

Nói về thách thức khi đầu tư ra nước ngoài, ông Hùng chia sẻ, trong thế giới phẳng, nếu chúng ta giỏi thật giỏi một cái gì thì chúng ta có thể đánh được cả thế giới. Sức cạnh tranh lớn nhất của Viettel khi ra nước ngoài là thấy mình nghèo nhất. Các công ty đại gia ở các nước giàu có khác thì làm gì có nhân viên chịu đi công tác những nước nghèo, sống trong điều kiện khó khăn thiếu thốn. Mà nếu đầu tư mà không có người của mình qua đó làm việc sâu sát thì làm sao quản lý được. Ông kể “Khi người Mỹ thấy người Việt nam qua Haiiti thì đi vé máy bay hạng thường, thuê 1 nhà ở chung 10 người, và cùng nấu cơm với nhau để ăn … thì người Mỹ biết họ cạnh tranh không nổi rồi” … !!!

Các thị trường mà Viettel đầu tư kinh doanh cũng vậy, đó là những nước chậm phát triển, mức thu nhập người dân rất thấp, địa hình không thuận lợi, nhiều đồi núi, nhiều thiên tai, hạn hán hoặc bất ổn về chính trị, không ai dám nhảy vào đầu tư. Ông Hùng giải thích rằng: “đó dù là những đất nước có chính trị không ổn định, nội chiến, thiên tai, nhưng dịch vụ viễn thông thì vẫn là thiết yếu, nó như là cơm là gạo, vì thế đất nước nào cũng cần, cần ở mọi nơi mọi lúc. Hơn nữa, viễn thông cũng là hạ tầng cơ sở, liên quan tới nhiều lĩnh vực khác như giáo dục đào tạo, xây dựng, kinh tế… Chính vì thế mà Viettel không ngần ngại khi đầu tư vào những thị trường trên.”

Một dẫn chứng là tại Haiiti, một nước Trung Mỹ nhỏ và nghèo, sau khi Viettel trúng thầu đầu tư lại xảy ra một trận động đất lịch sử, phá hủy hầu như toàn bộ cơ sở vật chất tại nước này. Rất nhiều công ty càng e ngại không dám đến đầu tư, nhưng ông Hùng lại xem đây là thị trường có nhiều lợi thế cho mình. Thứ nhất, hạ tầng của những công ty viễn thông trước đây đều bị hư hại hoàn toàn, họ phải bắt đầu xây dựng lại từ số 0 như Viettel. Lợi thế thứ hai là không ai dám đến Haiiti nên nước này rất trân trọng Viettel. Ngoài ra, một lợi thế khác là nhờ có động đất mà tiền viện trợ các nước đổ vào Haiiti rất nhiều. Do vậy theo ông Hùng đánh giá, đây là thị trường rất tiềm năng, sẽ đem lại thành công lớn cho Viettel trong vài năm tới.

Viettel_haiti

Tổng thống Haiti Martelly (bìa phải) và Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Mạnh Hùng (giữa).

4. Luôn tạo ra thách thức mới để thúc đẩy nhân viên

Khi khởi nghiệp thì mọi quan hệ trong công ty đều êm đẹp, nhưng đến khi thành công rồi thì lại dễ có nhiều bất ổn xảy ra, tranh giành chức quyền hay rảnh rỗi quá lại đi nói xấu lẫn nhau. Mọi người thường chỉ đoàn kết mỗi khi gặp khó khăn, nguy hiểm với bên ngoài. Với nhận thức đó, ông Hùng đề ra triết lý cho Viettel: “Khi thành công thì phải khởi tạo một cuộc hành trình mới. Thành công ở trong nước thì tiến sang đầu tư nước ngoài. Nếu không còn khó khăn thì Viettel không có lí do tồn tại”. Ông tâm sự: “Anh em trong Ban Giám đốc đều có chung quan điểm là nếu ko tìm ra thử thách mới thì giải tán công ty luôn vì nếu không có thử thách thì sẽ xảy ra đấu đá nội bộ với nhau … lúc đó đau đầu lắm, thôi giải tán cho rồi”.

Quả thực, nhờ đầu tư ra nước ngoài, mở thêm mảng kinh doanh, liên tục tạo ra thách thức mới cho nhân viên mà đội ngũ Viettel càng ngày càng phát triển và tinh nhuệ. Đây thực là cách rất hiệu quả để phát huy tiềm năng của mỗi nhân viên, tạo cơ hội cho nhiều bạn trẻ Viettel nói riêng hay Việt nam nói chung tung hoành trên khắp thế giới. Nhờ đó, tầm nhìn của người Việt cũng được nâng cao, hình ảnh của Việt Nam cũng được tôn trọng hơn với bạn bè quốc tế. Một bằng chứng khác cho sự thành công của chiến lược này là các công ty viễn thông trong nước khác như Mobifone, FPT cũng đã “bắt chước” theo, chuẩn bị đầu tư ra nước ngoài như Viettel [15].

(Còn tiếp)

Nguyễn Sinh Chương

Phần 3: Viễn cảnh của ngành viễn thông khi thoại và sms bị các dịch free khác lấy mất doanh thu

 

Tham khảo:

11.    ICTNews. “VN xếp thứ 8 về mật độ thuê bao di động”. Link: http://www.ictnews.vn/Home/Vien-thong/VN-xep-thu-8-ve-mat-do-thue-bao-di-dong/2011/07/1MSVC585416/View.htm

 12.    ABC. “2 billion people now surfing the net: UN”. Link: http://www.abc.net.au/news/2011-01-27/2-billion-people-now-surfing-the-net-un/1919162.

 13.    Chuoigiatri.net. “Top talk – anh Nguyễn Mạnh Hùng Viettel”. Link: http://chuoigiatri.net/top-talk-anh-nguyen-manh-hung-viettel.html

 14.    FPT. “Nội dung giao lưu của anh Hùng Viettel và FLI Club “. Link: http://fli.fpt20.com/blog_detail.asp?id=4338&page=1.

 15.    VNExpress. “Các mạng di động đua nhau xuất ngoại”. Link: http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/07/cac-mang-di-dong-dua-nhau-xuat-ngoai/

Categories: Papers | 1 Comment

Post navigation

One thought on “Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông P. 2

  1. Pingback: Câu chuyện Viettel và viễn cảnh của ngành viễn thông, P.1 | Chuong NS's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: